BachBien_Vilitiago

Nội thảo luan, chia sẻ tâm sự, kinh nghiệm Điều trị, các Phương thuốc chữa bệnh Bạch Biên - Vilitiago.
 
IndexCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Share | 
 

 Một số cây thuốc dùng chữa bệnh Bạch Biến

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin


Tổng số bài gửi: 3
Join date: 04/04/2010

Bài gửiTiêu đề: Một số cây thuốc dùng chữa bệnh Bạch Biến   Sun Apr 04, 2010 8:26 am

Cây thuốc trị Bạch biến - Sơn dịch ( Khoai ca ) Đăng ngày: 17:37 14-07-2009 Thư mục: Tổng hợp Khoai ca

Khoai ca, Sơn dịch - Aristolochia indica L., thuộc họ Nam mộc hương - Aristolochiaceae.

Mô tả: Cây thảo sống nhiều năm, mọc leo quấn, không lông, có rễ to. Lá có phiến xoan, thon, gốc cắt ngang hay hình tim, 5 gân, gân phụ 4-6 cặp, cuống 1cm. Hoa 2-3 ở nách; lá bắc nhỏ; bao hoa không lông, dài 3-4cm, bầu tròn, phiến hoa thuôn, nhị 6, đầu nhuỵ 6. Quả nang dài 3-4cm; hạt có cánh.

Bộ phận dùng: Rễ, lá - Radix et Folium Aristolochiae

Nơi sống và thu hái: Cây mọc ở rừng nhiều nơi rải rác khắp nước ta.

Thành phần hoá học: Rễ chứa một glucosid kết tinh, một chất glucosid đắng ở trạng thái vi kết tinh gọi là acid isoaristolochic, allantoin, 0,05% alcaloid aristolochin, tinh dầu chứa hợp chất carbonyl và một lượng nhỏ dầu với mùi của isovanilin. Còn có 0,52% tinh dầu.

Tính vị, tác dụng: Rễ có vị đắng và gây buồn nôn. Toàn cây có vị đắng, mùi thơm yếu, có tác dụng bổ, kích thích, điều kinh, gây nôn.

Công dụng: Toàn cây dùng trị ăn uống kém ngon, sốt rét định kỳ, thủy thũng

Ở Ấn độ, toàn cây được dùng thông thường làm thuốc bổ kích thích; rễ được sử dụng dưới dạng bột trộn với mật ong dùng trị bạch biến; dịch lá dùng trị rắn cắn.
---------

Thuốc dấu, Hồng tước san hô
- Pedilanthus tithymaloides (L.). Poit. (Euphorbia tithymaloides L.). thuộc họ Thầu dầu - Euphorbiaceae.



Mô tả: Cây nhỡ cao đến 1m, có nhựa mủ trắng. Cành vặn vẹo, mọc thẳng đứng. Lá hình trứng, mọc so le, thành 2 dây rất đều. Hoa màu đỏ, mọc ở ngọn thân.


Cây ra hoa tháng 3-5 và tháng 8-9.

Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Pedilanthi.

Nơi sống và thu hái: Nguyên sản ở đảo Antilles (Trung Mỹ) được nhập trồng làm cây cảnh, làm hàng rào. Có nhiều phân loài khác nhau bởi thân, lá có lông mịn hay không lông, lá hẹp hay lá rộng; có một thứ gọi là Cẩm thạch (var. variegatus Hort.) có lá với bớt xanh, hồng và trắng như vẽ bằng màu nước, thường được trồng. Người ta thu hái toàn cây, lá quanh năm, thường dùng tươi.

Tính vị, tác dụng: Vị chua, hơi chát, tính hàn, có độc, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán ứ tiêu thũng, chỉ huyết sinh cơ. Rễ có tác dụng gây nôn.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng trị đòn ngã tổn thương, ngoại thương xuất huyết, mụn nhọt lở ngứa, viêm kết mạc mắt. Có nơi dùng trị rết cắn (với tên Ngải rít). Lá dùng trị sổ mũi và chứng bứt rứt.

Ở Ấn Độ, nhựa mủ của các phần xanh của cây dùng đắp lên mụn cóc.

Ở Malaixia, nhựa được dùng đắp vào da trị bệnh bạch biến và dùng trị bò cạp và rết cắn.

Cách dùng: Lá thường dùng tươi giã đắp hoặc lấy mủ tươi đắp vết thương. Để dùng uống trong, hãm lá trong nước sôi. Để chữa đinh nhọt và viêm mủ da, vết thương chảy máu, giã cây tươi dùng rịt ở ngoài. Để trị rắn cắn, giã cây tươi với một ít muối và đắp vào vết thương
----

BỒ CỐT CHỈ

( Fructus Psoraleae Corylifoliae)





Bổ cốt chỉ còn gọi là Phá cố chỉ, Hắc cố tử, Hạt đậu miêu, được ghi làm thuốc đầu tiên trong sách Dược tính bản thảo. Hạt chín phơi khô của cây Bổ cốt chi (Psorales corylifolia L.) dùng làm thuốc.

Bào chế bỏ tạp chất, dùng sống hoặc tẩm nước muối sao cho hơi phồng, gọi là Diêm Bổ cốt chi, lúc dùng đập vụn.

Tính vị qui kinh:

Đắng cay, đại ôn qui kinh Thận tỳ.

Tính vị:

Sách Dược tính bản thảo: vị đắng cay.

Sách Khai bảo bản thảo: cay, đại ôn, không độc.

Sách Hiện đại thực dụng Trung dược: vị cay, đắng mà ngọt.

Qui kinh:

Sách Lôi công bào chế dược tính giải: nhập thận kinh.

Sách Bản thảo hội ngôn: nhập thủ quyết âm, túc thái âm và mệnh môn.

Sách Bản thảo kinh giải: nhập túc dương minh vị kinh.

Thành phần chủ yếu:

Psoral, Isopsoralin, bavachin, bavachinin, Isobavachin, bavachalcone, Isobavachalcone, bakuchiol, raffinose.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Bổ cốt chi có tác dụng bổ thận tráng dương, cố tinh súc niệu, ôn tỳ chỉ tả. Chủ trị chứng liệt dương, hoạt tinh, đái dầm, đái nhiều lần, tỳ hư tiết tả.

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Tác dụng đối với hệ tim mạch: thuốc có tác dụng làm dãn động mạch vành rõ rệt, có tác dụng đối kháng với kích tố làm co động mạch vành của thùy sau tuyến yên, trên thực nghiệm tim cô lập chuột Hà lan và chuột to, thuốc làm tim co bóp mạnh hơn và tăng cường lưu lượng máu của động mạch vành.

Trên động vật thực nghiệm: thuốc có tác dụng kích thích sự sinh trưởng của tế bào bạch cầu hạt.

Tác dụng kháng khuẩn in vitro: thuốc có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, tụ cầu trắng, trực khuẩn lao.

Thuốc có tác dụng đối với cơ trơn: dịch chiết xuất Bổ cốt chi có tác dụng hưng phấn cơ trơn của ruột cô lập nhưng có tác dụng làm mềm dãn tử cung của chuột Hà lan cô lập.

Tác dụng chống lão suy: thuốc có tác dụng kéo dài kỳ ấu trùng của tằm nuôi, các học giả qua nghiên cứu cho rằng có thể do thuốc có khả năng điều tiết thần kinh và huyết dịch, kích thích tủy xương tạo máu, tăng cường miễn dịch và chức năng các hocmôn mà chống lão suy.

Chống ung thư: trên thực nghiệm sơ bộ có nhận xét là tinh dầu Bổ cốt chi có tác dụng chống ung thư. Bổ cốt chi tố B có tác dụng ức chế Sarcoma-180 và tế bào Hela.

Tác dụng tăng cường sắc tố da. Kết quả nghiên cứu cho thấy Bổ cốt chi tố B có tác dụng dãn mạch, cải thiện dinh dưỡng, tổ chức cục bộ làm tăng sắc tố ở da.

Tác dụng Oestrogen và chống thụ thai: Phenol Bổ cốt chi có tác dụng chống thụ thai (chống làm ổ), phenol Bổ cốt chi làm thay đổi kỳ động dục của chuột cái đã cắt buồng trứng, làm tăng trọng lượng tử cung rõ rệt.

Ứng dụng lâm sàng:

Theo Y học cổ truyền Bổ cốt chi là vị thuốc chính trị bệnh Tỳ thận dương hư. Trên lâm sàng thường dùng trị bệnh như sau:

1.Trị tiêu chảy kéo dài do dương hư (thường tiêu chảy vào lúc sáng sớm nên gọi là Ngũ canh tả):

dùng các bài:
Tứ thần hoàn (chứng trị chuẩn thằng) gồm: Bổ cốt chi 160g, Ngũ vị tử 80g, Nhục đậu khấu (sao) 80g, Ngô thù du 40g, Sinh khương 320g, Đại táo 240g, Khương Táo sắc lấy nước, các vị khác tán bột mịn trộn với nước sắc hồ làm hoàn, mỗi lần uống 8 - 16g với nước muối hoặc nước sôi ấm trước lúc ngủ.

Bổ cốt chi, Nhục đâïu khấu lượng bằng nhau, Khương, Táo sắc trộn hồ làm hoàn, uống mỗi lần 12g, ngày 2 lần.

2.Trị liệt dương, đái nhiều, đái dầm

: Bổ cốt chi phối hợp với Ích trí nhân, Thỏ ty tử, dùng bài:
Bổ cốt chi hoàn: Bổ cốt chi, Thỏ ty tử, Hồ đào nhục, mỗi thứ 12g, ngày 2 lần với nước muối nhạt. Trị đái dầm có thể dùng độc vị Bổ cốt chi tán bột, mỗi lần uống 8g, ngày 2 lần.

Bổ cốt chi (ngâm rượu sao) 100g, Tiểu hồi sao 100g, tán nhỏ trộn đều làm thành viên, mỗi tối dùng với nước ấm uống: Từ 3 - 9 tuổi:1,5g; từ 10 - 12 tuổi:2,5g. Trị 6 ca đều khỏi (Tân trung y 1976,1:57).

3.Trị ho lao (Đỗ tất Lợi):

Bổ cốt chi 400g tẩm rượu 1 đêm phơi khô, lấy một nắm vừng trộn lẫn thuốc rang lên cho đến khi vùng hết nổ, lấy Phá cố chỉ tán bột làm viên bằng hạt ngô, ngày uống 30 viên, chia 2 - 3 lần.
4.Trị bệnh bạc đới, sói tóc:

dùng Bổ cốt chi 40g ngâm với 100ml cồn 75%, 5 - 7 ngày bôi lên vùng bệnh và chích bắp dịch tiêm Bổ cốt chi ngày 1 lần 5 ml, gia chiếu tia tử ngoại trị bạch điến 49 ca, tỷ lệ kết quả 75,5%. Đối với sói tóc, chỉ dùng tiêm và chiếu tia tử ngoại trị 45 ca có kết quả 84,4% ( Tờ thông tin Trung thảo dược 1972,1:41).
5.Trị tử cung xuất huyết:

Bổ cốt chi và Xích thạch chỉ lượng bằng nhau chế thành viên cầm máu . Trị 326 ca, có kết quả trên 90% ( Tạp chí Thiên tân Y dược 1973,1:36).
6.Trị chứng bạch cầu giảm

: dùng bột thuốc luyện mật làm hoàn, mỗi hoàn nặng 6g, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 - 3 hoàn hoặc 3g bột, một liệu trình 4 tuần. Trị 19 ca, 14 ca khỏi, 4 ca tiến bộ ( Tân y học 1975,10:497).
Liều thường dùng:

Liều: 4 - 12g.

Không nên dùng nhiều.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://bachbien.forums-free.info
yesnoyesno



Tổng số bài gửi: 1
Join date: 20/05/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: Một số cây thuốc dùng chữa bệnh Bạch Biến   Fri May 21, 2010 2:47 am

Crying or Very sad hình như dùng phá cố chỉ không ăn thua mấy thì phải. Mình dùng thử thì thấy vùng da màu trắng chuyển sang màu hồng nhưng cũng không che bớt được là mấy. Hơn nữa bôi lên vùng da dày thì không sao nhưng bôi vào vùng da mỏng thì có hiện tượng bị phỏng, rộp da Crying or Very sad
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 

Một số cây thuốc dùng chữa bệnh Bạch Biến

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 Similar topics

-
» Da và các thành phần phụ thuộc
» [Xvideos] Hot hot: Clip sex Nữ sinh 9x, ĐH Bách khoa HN bị phát tán
» bạn Văn Minh đàn Ghita hay chưa nà. Nơi tình Iu bắt đầu
» Hướng dẫn cơ bản cho người chưa biết gì về forum
» Văn bản nhật dụng

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
BachBien_Vilitiago ::  :: -